Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

Giới thiệu về trái phiếu và cổ phiếu


A. Trái phiếu


1. Khái niệm:


Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.


2. Đặc điểm:


a. Một trái phiếu thông thường có ba đặc trưng chính:

+ Mệnh giá.
+ Lãi suất định kỳ (coupon)
+ Thời hạn.

b. Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ – con nợ giữa người phát hành và người đầu tư .

Phát hành trái phiếu là đi vay vốn. Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy, trái chủ là chủ nợ của người phát hành. Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành.

c. Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố:

+ Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng. Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó.
+ Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Cấu trúc rủi ro của lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu. Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao.
+ Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìn chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao.

B. Cổ phiếu


I. Khái niệm:


Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.


Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.


Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình.


Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử..v.v.


II. Tác dụng của việc phát hành Cổ phiếu:


Đối với Công ty phát hành:


Việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng ...thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.


Đối với nhà đầu tư cổ phiếu:


Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ phiếu được công ty phát hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn. Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

5 trạng thái của sự khủng hoảng tâm lý trên thị trường toàn cầu

http://cafef.vcmedia.vn/thumb_w/252/Images/Uploaded/Share/2011/09/15/kinhte0704.jpgMô hình nỗi khổ nổi tiếng của Kübler-Ross có 5 giai đoạn: chối bỏ, giận dữ, kì kèo, thất vọng và chấp nhận. Dường như cả 5 trạng thái này đang cùng tồn tại song song.
Liệu 5 cung bậc cảm xúc của nỗi khổ này có thể nhìn thấy trong cú sốc tâm lý trước những khó khăn kinh tế trước mắt?
Các nước Tây Âu và Mỹ hiện đương đầu với nhiều năm giảm nợ đầy đau đớn. Họ sẽ phải cảm thấy sự mất mát bởi mô hình đó trước đây đã cho phép họ sống phung phí, đó còn chưa kể đến uy tín của các chính phủ các nước cũng sụt giảm nghiêm trọng bởi mô hình kinh tế của họ thất bại.
Thất bại này sẽ khiến Mỹ và các nước Tây Âu phụ thuộc nhiều hơn vào các thị trường mới nổi – khu vực của thế giới không có mấy chục năm vay nợ và không đương đầu với vấn đề tương tự. Để bảo vệ đồng USD, chính phủ Mỹ sẽ cần đến sự trợ giúp của nhóm nước có dự trữ dồi dào. Một số nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu sẽ phải vỡ nợ và có thể rời khu vực đồng tiền chung châu Âu.
Chối bỏ: Ai muốn tin những điều trên? Khi phải đối diện với triển vọng thực sự tồi tệ, chúng ta cố gắng viện đến một lý thuyết nào đó với hy vọng thực tế sẽ khác đi. Ngay cả khi các nhà lãnh đạo hiểu được rõ ràng rằng họ sẽ phải chịu thiệt như thế nào, tâm lý chối bỏ cũng sẽ vẫn hạn chế hành động của họ.
Nếu suy nghĩ cẩn thận , mọi chuyện có thể sẽ được hướng theo hướng đỡ tệ hơn. Các ngân hàng thường nằm ở tâm điểm của các cuộc khủng hoảng tài chính, các nhà hoạch định chính sách thường sẽ quốc hữu hóa ngân hàng, tái cấp vốn và khơi thông lại dòng chảy tín dụng.
Các nhà hoạch định chính sách tài khóa tại Mỹ đã không cấp vốn đủ cho các ngân hàng và chủ tịch Fed thay vào đó chọn con đường dài hơn, mạo hiểm với các chính sách đẩy giá tài sản tăng cao. Việc áp dụng chỉ riêng chính sách tài khóa không thể đưa tỷ lệ nợ/GDP về mức ổn định, các kế hoạch giải cứu chỉ giúp kéo dài thời gian; một nước như Hy Lạp có duy nhất 2 lựa chọn chính sách: tái cơ cấu nợ và hạ giá đồng tiền.
Giận dữ: Người Hy Lạp rất phẫn nộ với hệ thống của họ. Họ phản đối mạnh mẽ chính quyền, giới chính trị gia, nhiều người quyết tâm không hợp tác với bất kỳ chính sách thắt chặt nào. Tâm lý đối kháng với chính trị dâng cao tại cả Tây Âu và Mỹ, rủi ro chính trị tăng cao hơn. Khi dân chúng phẫn nộ, họ sẽ không muốn hợp tác với chính phủ, muốn phá phách. Trong các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu, sự căng thẳng giữa chính phủ và người dân đang lên cao, hạn chế khả năng thực thi chính sách của các nhà lãnh đạo.
Kì kèo: Các nhà hoạch định chính sách đưa ra hàng loạt cam kết để ngăn sự thiệt hại. Tháng 9/2008, ông Hank Paulson, Bộ trưởng Tài chính Mỹ đã phải cầu xin chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi không bác bỏ kế hoạch cứu ngân hàng của ông. Trong bối cảnh khủng hoảng khi đó, chính quyền đã đưa ra quyết định đầy nhanh gọn.
Hiện nay, việc bơm thêm tiền vào Hy Lạp khi nước này chưa cải tổ xong chính sách tài khóa chỉ tổ phí tiền, nó bắt nguồn từ lo lắng chính trị bên ngoài Hy Lạp hơn các mục tiêu kinh tế khách quan. Hành vi kì kèo đó là khi người ta tính toán trong ảo tưởng điều gì sẽ xảy ra chứ không phải thực tế nó thế nào. Nhiều phản ứng chính sách tại Mỹ và châu Âu trong suốt 3 năm qua đã thật sự thiển cận và thiếu tầm nhìn.
Thất vọng: Người ta đã từ bỏ hy vọng. Đó là trạng thái tinh thần khủng hoảng. Khi đó người ta suy nghĩ, không còn muốn làm gì và thờ ơ với mọi việc. Một nền kinh tế trong khủng hoảng là nền kinh tế không có đầu tư, hy vọng và việc làm. Thật không may mắn, tình trạng này có thể kéo dài lâu. Trong một nền kinh tế, cần xem xét hết các loại tài sản trước khi cơ hội mới có thể đến.
Chấp nhận: Người ta đã chấp nhận sự thật. Đó là khởi điểm để xây dựng lại cuộc sống. Tâm lý chấp nhận tại Tây Âu và Mỹ sẽ đến khi kỳ vọng trở thành thực tế, các nhà hoạch định chính sách sẽ tiến hành cải tổ cấu trúc và ngăn các yếu tố mất cân bằng. Người ta có thể sẽ chẳng bao giờ chấp nhận hoàn toàn và tâm lý này chỉ có thể đến sau nhiều năm.
Đây là giai đoạn cuối cùng của nỗi khổ, thị trường có thể có thế có cả 5 trạng thái cám xúc cùng một lúc. Thế nhưng tâm lý phủ nhận dường như đang thắng thế. Nhiều nước đã chịu quá nhiều thiệt hại và họ quen với điều này, nhưng Tây Âu và Mỹ không như vậy. Mọi chuyện sẽ không sớm kết thúc.